Sự đối lập không nằm ở loài vật được nuôi, mà ở cách ứng xử với pháp luật. Ảnh đồ họa: PV
Một bên, ông Thành đối diện bản án 6 năm tù vì nuôi và bán 13 con gà lôi trắng không phép; trong khi đó, ông Tín lại được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba nhờ mô hình nuôi công má vàng, chim trĩ, gà lôi mang lại lợi ích bảo tồn và sinh kế cho cộng đồng. Điều này đặt ra câu hỏi: Vì sao cùng loài vật nuôi, có người bị kết tội, người được vinh danh?
Bản án dành cho ông Thái Khắc Thành đã làm nóng dư luận nhiều ngày qua. Ông Thành bị truy tố và kết án về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” vì nuôi giữ, buôn bán gà lôi trắng. Đáng chú ý, loài này trước đây thuộc nhóm IB (nghiêm cấm khai thác, buôn bán), nhưng đã được chuyển sang nhóm IIB theo Thông tư 27/2025/TT-BNNMT, có hiệu lực từ 1/7/2025. Chính sự thay đổi chính sách khiến vụ án trở nên phức tạp, buộc cơ quan tố tụng phải xem xét kỹ về căn cứ pháp lý, thời điểm áp dụng quy định và ranh giới giữa hành vi vi phạm với hoạt động nhân nuôi hợp pháp.
Trái ngược, ở Gia Lai, ông Tô Vũ Thành Tín lại được ca ngợi như một “người giữ giống quý”. Trang trại của ông nuôi nhiều loài chim quý hiếm, trong đó có công má vàng, chim trĩ và gà lôi. Thành công của ông Tín không chỉ ở việc nhân giống mà còn ở khả năng lan tỏa lợi ích cộng đồng: chia sẻ kỹ thuật, cung cấp con giống cho hộ nghèo, giúp nhiều gia đình thoát nghèo bền vững. Với những đóng góp ấy, năm 2023, ông được trao Huân chương Lao động hạng Ba. Đây cũng là minh chứng cho hướng đi đúng: Bảo tồn gắn liền với phát triển kinh tế nông thôn.
Một trại nuôi gà lôi trắng ở miền Bắc. Ảnh: PV
Sự đối lập không nằm ở loài vật được nuôi, mà ở cách ứng xử với pháp luật. Ông Tín đi theo con đường hợp pháp, xây dựng mô hình có định hướng bảo tồn và phát triển cộng đồng, được chính quyền giám sát và công nhận. Ngược lại, ông Thành không có giấy phép, không khai báo, không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của cá thể, nên hành vi bị xem là vi phạm pháp luật, dù trên thực tế, việc nhân giống có thể mang lại giá trị bảo tồn.
Luật sư Trần Hà, Giám đốc Công ty Luật TNHH PHAROS (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), phân tích: “Pháp luật không hoàn toàn cấm người dân nhân nuôi các loài động vật hoang dã, quý hiếm. Nhưng điều kiện bắt buộc là phải đăng ký với cơ quan chức năng, được cấp phép và chứng minh nguồn gốc giống hợp pháp, rõ ràng”.
Tiến sỹ Nguyễn Chí Thành. Ảnh: NVCC
Từ góc độ khoa học, Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành (Trường Đại học Nông Lâm nghiệp Bắc Giang) lưu ý: Nhân nuôi chỉ có giá trị bảo tồn nếu đáp ứng điều kiện kỹ thuật và sinh thái học – chuồng trại đủ chuẩn, môi trường gần tự nhiên, có quy trình chăm sóc và huấn luyện để cá thể có khả năng tái thả. “Nếu nhân nuôi nhỏ lẻ, không kiểm soát chặt chẽ, nguy cơ thay đổi tập tính, suy giảm đa dạng di truyền là rất lớn, khiến tái thả thất bại”, Tiến sỹ Nguyễn Chí Thành nhấn mạnh.
Nhìn từ cả góc độ pháp lý lẫn khoa học, có thể thấy: Chỉ khi nhân nuôi được đặt trong khuôn khổ pháp luật và chuẩn mực bảo tồn, nó mới trở thành giải pháp cho đa dạng sinh học, thay vì biến thành rủi ro pháp lý hay hệ lụy sinh thái.
Luật sư Trần Hà cho rằng, Nhà nước nên khuyến khích người dân nhân nuôi các loài động vật hoang dã quý hiếm để chung tay cùng bảo tồn, nhân rộng quần thể các loài này. Trên thực tế, nhiều loài động vật quý đang rất khó khăn khi tồn tại trong môi trường tự nhiên do môi trường sống thu hẹp, bị tập trung săn bắt… nguy cơ tuyệt chủng rất cao. Nhưng nếu khuyến khích người dân nuôi, bà con sẽ coi đó là tài sản của mình và tự có ý thức bảo vệ, gìn giữ, nhân rộng quần thể bởi họ được hưởng lợi từ việc tham gia bảo tồn.
Tuy nhiên, câu chuyện gà lôi trắng phơi bày khoảng trống trong phổ biến pháp luật và định hướng chính sách bảo tồn. Nếu chỉ cấm đoán mà không tạo cơ chế hợp pháp, người dân dễ trở thành tội phạm chỉ vì thiếu hiểu biết. Muốn khuyến khích họ tham gia bảo tồn, cần hệ thống thủ tục rõ ràng, dễ tiếp cận, có hướng dẫn tận nơi, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, cần phải có cơ chế rõ ràng để kiểm soát chặt chẽ hoạt động “nhân nuôi” động vật hoang dã.
Một trại nuôi động vật hoang dã tại Vĩnh Phúc (cũ), nay là Phú Thọ. Ảnh: PV
Theo Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành, giải pháp quản lý chặt chẽ phải bắt đầu từ cơ chế đăng ký, cấp phép và hậu kiểm minh bạch, áp dụng thống nhất với mọi cơ sở nhân nuôi. Song song, cần ứng dụng công nghệ như gắn chip điện tử, phân tích DNA để truy xuất nguồn gốc, nhất là với loài nguy cấp. Thanh tra, kiểm tra phải thường xuyên, cả định kỳ lẫn đột xuất, kèm chế tài đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng lợi dụng nhân nuôi hợp thức hóa cá thể săn bắt ngoài tự nhiên.
Thực tiễn cho thấy, khi được đồng hành và hỗ trợ, người dân có thể trở thành lực lượng bảo tồn hiệu quả, như mô hình của ông Tín. Nhưng nếu thiếu cơ chế pháp lý minh bạch, nhân văn, những nỗ lực tự phát, tương tự như trường hợp ông Thành, rất dễ bị bóp nghẹt. Và đó chính là nghịch lý mà chính sách bảo tồn cần tháo gỡ.
(Nguồn: Báo Thanh tra)
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn